FAQ

Sỏi túi mật có thể gặp ở bất kể ai, người trẻ tuổi ít bị hơn.

Những người sau đây thuộc nhóm có nguy cơ cao:

– Người béo: vì sỏi liên quan đến vấn đề thừa cholesterol trong máu.

– Phụ nữ dùng thuốc tránh thai có chứa estrogen.

– Người có bệnh viêm đường ruột như bệnh Crohn, viêm loét đại tràng.

– Sau phẫu thuật cắt túi mật, bệnh nhân không cần phải dùng thêm các loại thuốc hỗ trợ tiêu hóa vì gan vẫn tiết ra dịch mật đầy đủ.

– Một số ít trường hợp có chậm tiêu với thức ăn nhiều chất béo, trứng. Vì vậy, tốt nhất là sau mổ bệnh nhân nên hạn chế ăn thức ăn nhiều chất béo, trứng trong vòng 3 tháng để cơ thể kịp điều chỉnh dự trữ dịch mật.

– Rất ít trường hợp có tiêu lỏng sau mổ, triệu chứng này thường tự khỏi sau vài tuần.

Với những trường hợp bệnh nhân ít sỏi mật, sức khỏe yếu có thể không cần phẫu thuật mà vẫn được điều trị sỏi mật hiệu quả. Đó là tán sỏi ngược dòng qua nội soi và tán sỏi mật qua da. Phương pháp tán sỏi ngược dòng qua nội soi được chỉ định với các trường hợp có sỏi đoạn thấp ống mật chủ, sỏi nhỏ và ít. Các bác sĩ nội soi sẽ thực hiện cắt cơ thắt Oddi ở đoạn cuối của ống mật chủ, sau đó đưa dụng cụ lên đường mật để lấy sỏi. Tuy nhiên phương pháp này không áp dụng được với các trường hợp đã phẫu thuật nối mật ruột. Còn phương pháp tán sỏi mật qua da được chỉ định cho các trường hợp có sỏi ống mật chủ, sỏi trong gan, sỏi tái phát, sỏi mật ở các bệnh nhân đã phẫu thuật nối mật ruột, có hẹp đường mật kèm theo, bệnh nhân già yếu, có bệnh lý toàn thân nặng, đang trong tình trạng sốc… Tán sỏi mật qua da là phương pháp điều trị ít xâm phạm, an toàn, thời gian hồi phục nhanh do không cần phẫu thuật và gây mê. Đặc biệt, phương pháp này được áp dụng điều trị cho những trường hợp sỏi rải rác trong gan, khó áp dụng điều trị bằng các phương pháp khác.

Người dân cần tránh ăn các thức ăn có quá nhiều mỡ, hạn chế và phải rửa sạch trước khi sử dụng các thức ăn có nguy cơ nhiễm ký sinh trùng giun sán (như ăn gỏi sống…). Duy trì thói quen ăn đúng giờ để túi mật co bóp đúng chu kỳ và ăn nhiều rau xanh cũng rất quan trọng

Thừa cân hoặc béo phì làm tăng nguy cơ mắc sỏi mật, đặc biệt là ở phụ nữ. Theo nghiên cứu, những người béo phì tạo ra lượng cholesterol cao hơn người có cân nặng bình thường. Điều này khiến cho dịch mật không thể hòa tan hết cholesterol và kết quả là hình thành sỏi mật. Ngoài ra, những người béo phì thường có túi mật lớn nhưng không hoạt động hiệu quả. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những người bị béo bụng có nhiều khả năng bị sỏi mật hơn so với những người bị béo hông và đùi. So với việc giảm cân quá nhanh chóng thì béo phì là nguy cơ lớn hơn đối với bệnh sỏi mật. Bên cạnh sỏi mật, béo phì cũng liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm bệnh đái tháo đường, bệnh tim, đột quỵ và một số loại ung thư.

Giảm cân nhanh chóng làm tăng nguy cơ sỏi mật. Không chỉ vậy, ở những người bị “sỏi mật thầm lặng”, việc giảm cân quá nhanh cũng làm tăng nguy cơ phát triển các triệu chứng. Những người giảm quá 1,36kg mỗi tuần dễ mắc sỏi mật hơn những người giảm cân chậm và ổn định. Một số phương pháp điều trị béo phì, chẳng hạn như phẫu thuật giảm cân và chế độ ăn rất ít calorie làm tăng nguy cơ sỏi mật do thúc đẩy giảm cân quá nhanh. Vì vậy, hãy cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định giảm cân bằng những cách này.

Giảm cân chậm và ổn định làm giảm nguy cơ mắc sỏi mật.

Các chuyên gia khuyến cáo chỉ nên giảm khoảng 0.2 – 1kg mỗi tuần. Trong chế độ ăn giảm cân, bạn cũng nên lựa chọn các thực phẩm làm giảm nguy cơ mắc sỏi mật, chẳng hạn như:

– Ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ như gạo lức, yến mạch và bánh mỳ.

– Ăn ít ngũ cốc tinh chế và đường

– Ăn các chất béo lành mạnh như dầu cá và dầu olive giúp làm rỗng túi mật thường xuyên.

Hoạt động thể chất thường xuyên giúp cải thiện sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ sỏi mật. Bạn nên tập thể dục mức độ từ vừa đến nặng 5 giờ mỗi tuần, ưu tiên các bài tập hiếu khí (bài tập sử dụng các bắp thịt lớn ở lưng, ngực và chân). Để duy trì giảm cân, bạn cần tập ít nhất 60 – 90 phút mỗi ngày.

Sỏi mật rất phổ biến. Khoảng 20% dân số sẽ phát triển sỏi mật trong cuộc đời của mình. Tuy nhiên, chỉ có 20-30 phần trăm phát triển thành các triệu chứng.

Tuy nhiên nếu không kịp thời nguy hiểm sỏi mật có nguy cơ phát triển thành các biến chứng nguy hiểm sau:

– Vàng da, vàng mắt

– Viêm túi mật, nhiễm trùng túi mật

– Viêm đường mật, nhiễm trùng đường mật

– Nhiễm trùng huyết , nhiễm trùng máu

– Viêm tụy

– Ung thư túi mật

– Viêm túi mật cấp tính: Khi sỏi mật chặn ống dẫn mật từ túi mật, nó có thể gây viêm và nhiễm trùng trong túi mật. Điều này được gọi là viêm túi mật cấp tính. Đây là một trường hợp cấp cứu y tế. Nguy cơ phát triển viêm túi mật cấp tính từ sỏi mật có triệu chứng là 1 đến 3% .

– Nhiễm trùng: Tất cả các ca phẫu thuật đều tiềm ẩn nguy cơ này nhưng nó xảy ra với tỉ lệ rất thấp.

– Tổn thương ống mật: Đây là biến chứng nghiêm trọng nhất của phẫu thuật nội soi. Nó có thể gây ra rò rỉ, giãn hay rách hẹp ống mật dẫn tới tổn thương gan. Để giảm thiểu chấn thương như vậy, các chuyên gia khuyên bạn nên chụp X- quang đường mật trước khi phẫu thuật.

– Sót sỏi mật: Biến chứng này xuất hiện với tỷ lệ khoảng 6%.

– Đau đớn và mệt mỏi: Đây là những tác dụng phụ thường gặp của bất kỳ phẫu thuật bụng nào. Bệnh nhân nên hạn chế vận động trong khoảng 2 ngày và dần trở lại hoạt động bình thường sau khoảng một tuần.

– Buồn nôn và ói mửa: Có một tỷ lệ tương đối bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi gặp triệu chứng buồn nôn và ói mửa. Biện pháp thường được chỉ định đó là tiêm metoclopramide gây tê tại chỗ tại chỗ rạch (bên cạnh việc gây mê toàn thân) hay dùng thuốc chống nôn như granisteron trước khi phẫu thuật có thể làm giảm nguy cơ này.

– Hội chứng sau phẫu thuật: Bao gồm buồn nôn, tiêu chảy và đau ở phía trên bụng bên phải. Ở hầu hết các trường hợp, các triệu chứng này biến mất sau vài tuần phẫu thuật.

Trong các trường hợp chưa nhất thiết cần mổ, người bệnh sẽ được các phương pháp điều trị nội khoa khác. Một trong những giải pháp trong những năm gần đây đang được các bác sĩ điều trị quan tâm là sử dụng Đông dược, do ưu điểm tác động toàn diện lên hệ thống gan mật mà các phương pháp Tây y rất khó có thể tác động, nhờ đó mang lại tác dụng hữu ích để trị căn bệnh này.

– Tất cả các trường hợp sỏi túi mật bất kể kích thước, vị trí hay số lượng sỏi đều có chỉ định điều trị riêng.

– Với sỏi túi mật không triệu chứng thì vai trò của cắt túi mật và các phương pháp điều trị khác là không rõ ràng. Từ các nghiên cứu theo dõi diễn tiến tự nhiên của sỏi túi mật cho thấy, không cần thiết phải cắt túi mật phòng ngừa, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân có nguy cơ cao ung thư túi mật như túi mật sứ, sỏi kết hợp với polyp túi mật lớn hơn 10 mm, sỏi lớn hơn 25 mm…

Điều trị phù hợp cho bản thân bạn phụ thuộc vào:

– Kích thước viên sỏi

– Triệu chứng, mức độ nặng của triệu chứng

– Cảm nhận của bạn về từng phương pháp điều trị

Khó có thể đưa ra con số chính xác về chi phí mổ sỏi mật. Bởi giá mổ tùy thuộc vào nhiều yếu tố như xét nghiệm trước khi mổ, phương pháp mổ, bệnh viện thực hiện. Ngoài ra con phụ thuộc vào tình trạng, kích thước sỏi của người bệnh. Do vậy, người bệnh nên xếp thời gian đi khám và tham khảo ý kiến của bác sĩ để biết chi phí cụ thể.

1. Bệnh viện Bạch Mai: Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện lớn hội tụ đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn giỏi. Được các bác sĩ chuyên khoa tại bệnh viện Bạch Mai điều trị và trực tiếp tiến hành mổ sỏi mật luôn là lựa chọn của hầu hết người bệnh tại khu vực Hà Nội.

2. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: Là địa chỉ uy tín, tin cậy ở khu vực phía Bắc. Bệnh viện đã thực hiện thành công nhiều kỹ thuật phức tạp trong đó có mổ sỏi mật. 3. Bệnh viện 103: Đây là bệnh viện đa khoa loại I với các bác sĩ được đào tạo và huấn luyện trong môi trường quân đội. Rất nhiều bệnh nhân đã tin tưởng lựa chọn điều trị sỏi mật tại đây.

Phụ nữ có nguy cơ mắc sỏi mật cao hơn nam giới vì estrogen kích thích gan loại bỏ cholesterol từ máu và chuyển nó vào mật. Tuổi càng cao thì khả năng bị bệnh càng tăng.

– Mang thai: Mang thai làm tăng nguy cơ sỏi mật do tình trạng rối loạn nội tiết tố, do đó phụ nữ mang thai dễ có các triệu chứng của sỏi mật hơn. Trong thực tế, sỏi mật có thể biến mất sau khi sinh. Đối với trường hợp sỏi kích thước lớn, can thiệp ngoại khoa nên được hoãn lại cho đến khi sinh, nếu bắt buộc phải phẫu thuật thì nội soi là phương pháp an toàn nhất.

– Sử dụng liệu pháp hormon: Một số nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng việc sử dụng liệu pháp thay thế hormone (HRT) tăng gấp 2 hoặc 3 lần nguy cơ mắc sỏi mật, bệnh túi mật, hoặc phẫu thuật túi mật. Estrogen làm tăng triglycerid, một acid béo làm tăng nguy cơ bị sỏi cholesterol. Tuy nhiên, những phụ nữ sử dụng miếng dán hoặc dạng gel của HRT có nguy cơ sỏi thấp hơn so với những người dùng đường uống.

Bệnh sỏi mật tương đối ít gặp ở trẻ em. Khi sỏi mật xảy ra ở độ tuổi này, đa số đều là sỏi sắc tố và các bé gái có ít nguy cơ hơn so với bé trai.

Những bệnh lý sau đây có thể làm tăng khả năng mắc sỏi mật ở trẻ em:

– Chấn thương cột sống

– Đã từng phẫu thuật ổ bụng

– Thiếu máu hồng cầu hình liềm: làm tăng nguy cơ hình thành sỏi sắc tố.

– Suy giảm hệ miễn dịch

– Được nuôi qua đường tĩnh mạch trong thời gian dài: dẫn tới túi mật không có bóp, làm tăng nguy cơ sỏi mật. Lên tới 40% bệnh nhân nuôi ăn tĩnh mạch hình thành sỏi trong túi mật.

– Uống nhiều nước mỗi ngày.

– Ưu tiên những thức ăn dễ tiêu hóa và tránh những thực phẩm chứa nhiều dầu, mỡ.

– Tập luyện và vận động hàng ngày.

Bên cạnh đó, người bệnh có thể sử dụng một số cây thuốc như:

– Rau mương – loại rau mọc hoang quanh bờ hoặc dọc theo kênh mương.

– Rau cần – loại rau ăn quen thuộc.

– Kim tiền thảo – có tác dụng trị sỏi niệu quản và sỏi mật rất tốt.

Những việc làm trên chỉ góp phần làm giảm tình trạng ứ đọng sỏi và ngăn chặn viên sỏi phát triển to hơn, nó không có tác dụng điều trị cũng như làm tan hoặc bào mòn viên sỏi đã hình thành. Hơn nữa, việc chữa trị sỏi mật còn phải dựa vào kích thước viên sỏi và tình trạng sức khỏe của người bệnh. Do vậy, người bệnh phải đến thầy thuốc hoặc bác sĩ chuyên khoa để thăm khám và được chỉ định điều trị phù hợp, không nên tự ý dùng thuốc vì có thể không mang lại hiệu quả mà còn khiến kích thước sỏi ngày càng to hơn.

Thực tế có đến 50% người bệnh bị tái phát sỏi mật sau 3-5 năm điều trị. Với sỏi bùn mật, bệnh có thể tái phát sỏi sau vài tháng.

Nguyên nhân gây sỏi mật không chỉ có một mà là sự hội tụ của nhiều yếu tố, bao gồm: mất cân đối các thành phần có trong dịch mật, vận động đường mật kém, nhiễm khuẩn, nhiễm ký sinh trùng, dị dạng đường mật (teo đường mật, nang đường mật) hoặc do yếu tố cơ địa. Mổ lấy sỏi hay phẫu thuật cắt túi mật giúp loại được phần lớn những viên sỏi hiện hữu chứ không loại bỏ được nguyên nhân sinh sỏi, nhất là với các trường hợp bị sỏi mật do yếu tố cơ địa rất khó tác động. Mặt khác, sót sỏi hoặc không lấy được hết sỏi, sẹo và các tổn thương do đụng dập trong lần phẫu thuật trước cũng dễ gây ra ứ đọng dịch mật, bùn mật, tạo cơ hội hình thành sỏi mới. Điều này khá phổ biến với bệnh sỏi đường mật trong gan, ống mật chủ. Đây là những lý do khiến cho sỏi mật khó điều trị và dễ tái phát. Ngoài ra, một số yếu tố nguy cơ khác như: sử dụng các thuốc nội tiết tố, thuốc giảm mỡ máu, giun chui ống mật, hoặc mắc tiểu đường, gan nhiễm mỡ cũng là điều kiện thuận lợi cho sỏi mật tái phát.

Sự xuất hiện của những viên sỏi trong túi mật, ống mật chủ không rầm rộ (trừ sỏi gan) nên người bệnh thường không chú ý cho tới khi sỏi gây biến chứng. Nhưng, các bác sỹ dễ dàng chẩn đoán sỏi mật bằng siêu âm kết hợp với thăm khám. Một số trường hợp sỏi sắc tố, hoặc sỏi trong gan có thể cần đến các phương pháp chụp cản quang hoặc chụp cắt lớp.

Với những người đã từng mắc sỏi mật, có thể dễ dàng nhận diện sỏi tái phát thông qua các triệu chứng như:

– Đầy bụng, khó tiêu sau bữa ăn nhiều dầu mỡ

– Hay bị buồn nôn, lợm giọng

– Đau tức hạ sườn phải, có thể kèm theo cảm giác khó chịu ở bụng dưới.

– Thường xuyên bị táo bón và hay bị mẩn ngứa da

Để hạn chế tái phát sỏi mật, người bệnh cần nâng cao ý thức phòng chống bệnh thông qua chế độ ăn uống khoa học, đảm bảo vệ sinh kết hợp với dùng các sản hỗ trợ có khả năng ngăn chặn hình thành sỏi.

– Duy trì chế độ ăn giảm cholesterol và đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm

– Tập thể dục thường xuyên, đều đặn

Ở người già, phẫu thuật cắt bỏ túi mật thường không được khuyến khích do có thể gây nên nhiều hệ lụy về sau. Thuốc tây tan sỏi thường không có hiệu quả và gây nên nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Chính vì vậy mà việc điều trị nội khoa để bảo tồn túi mật là cách điều trị thích hợp nhất cho người già mắc bệnh sỏi túi mật. Phương pháp điều trị này bao gồm sự kết hợp của nhiều yếu tố, chẳng hạn như chế độ ăn, tập luyện… Cụ thể, người già nên hạn chế thức ăn giàu chất béo, cholesterol (thịt bò, lòng đỏ trứng, nội tạng đông vật), đồ ăn nhiều đường; ăn tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, chia nhỏ bữa ăn trong ngày kết hợp vận động thường xuyên với các bài tập nhẹ nhàng như: đi bộ, yoga, tập dưỡng sinh…

BS. Nguyễn Thái Bình
BS. Phan Nhân Hiển
90413727 571851880095570 4324353122936815616 n e1603430520782

Gửi câu hỏi tư vấn